1. Giới thiệu chung
Xã Sơn Cẩm Hà
được thành lập từ ngày 01/7/2025 theo Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở sáp nhập ba xã Tiên Sơn (được thành lập
từ sáp nhập 02 xã Tiên Sơn và Tiên Cẩm từ ngày 01/01/2025), Tiên Hà và Tiên
Châu. Đây là xã miền núi nằm ở phía Tây thành phố Đà Nẵng, có
vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh. Phía Đông:
giáp xã Tây Hồ, xã Tiên Phước; phía Tây: giáp xã Việt An; phía Nam:
giáp xã Thạnh Bình, xã Lãnh Ngọc; phía Bắc: giáp xã Đồng Dương, xã
Thăng Phú.
Tổng
diện tích tự nhiên 11.912,4 ha, dân số 3.962 hộ/17.409 người, tổng 20 thôn, là
xã thuần nông, trên 90% dân số sống bằng nông nghiệp, có nhiều tiềm năng về đất
đai và điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.
Sơn
Cẩm Hà là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, cảnh quan núi rừng hùng vĩ,
sông suối thơ mộng, thích hợp phát triển du lịch sinh thái, kinh tế trang trại.
Nơi đây mang đậm nét văn hóa vùng quê miền núi trung du, với những nếp nhà giản
dị dưới tán cây, ruộng bậc thang, vườn cây ăn trái xanh tốt. Người dân cần cù,
đoàn kết, gắn bó trong xây dựng đời sống văn hóa và phát triển kinh tế.
Những
năm gần đây, hệ thống giao thông, điện, nước, viễn thông được đầu tư, tạo thuận
lợi cho sản xuất và lưu thông hàng hóa. Văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội
được quan tâm; quốc phòng – an ninh giữ vững; công tác xây dựng Đảng, chính
quyền và các đoàn thể đạt nhiều kết quả tích cực.
Bước
vào giai đoạn mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Sơn Cẩm Hà quyết tâm
phát huy tiềm năng, lợi thế, đoàn kết – đổi mới – sáng tạo, xây dựng quê hương
ngày càng giàu đẹp, văn minh, góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố
Đà Nẵng.
2. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Xã
Sơn Cẩm Hà, thành phố Đà Nẵng, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 60 km (theo
đường chim bay). Trục giao thông chính đi qua trung tâm xã là tuyến đường huyết
mạch nối liền nhiều địa phương: một nhánh từ hướng Đông Nam, giáp Quốc lộ 1A
(phường Tam Kỳ), đi qua trung tâm xã rồi tiếp tục về hướng Tây giáp xã Việt An,
kết nối với Quốc lộ 14E và đường ĐT 615. Nhánh còn lại từ hướng Nam, giáp xã
Tiên Phước, đi qua trung tâm xã rồi tiếp tục về hướng Đông Bắc, nối với đường
ĐT 612, dẫn đến xã Thăng Bình và giáp Quốc lộ 1A qua các tuyến ĐT 614 và ĐT
612.
Ranh
giới hành chính của xã: phía Đông: giáp xã Tây Hồ, xã Tiên Phước; phía Tây: giáp
xã Việt An; phía
Nam: giáp xã Thạnh Bình, xã Lãnh Ngọc; phía Bắc:
giáp xã Đồng Dương, xã Thăng Phú.
Địa
hình xã thuộc vùng đồi núi trung du, trong đó diện tích đồi núi chiếm trên 80%
tổng diện tích tự nhiên. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, suối và
các dãy núi xen kẽ. Vùng Đông Bắc:
bị chia cắt bởi các núi Đá Chẹc, Dương Tranh, Đá Sọc, Núi Hoắc và Dương Đế; có
con suối bắt nguồn từ hồ Thắng Lợi và núi Dương Bồ, chảy về hướng Tây ra hồ
Việt An (xã Việt An). Vùng Tây Nam:
có các núi Hòn Cao, Vú Chị, Nứa, Vú Em, Hòn Tròn và Đá Đen; một con sông bắt
nguồn từ Sông Tiên (xã Tiên Phước) chảy về hướng Tây Bắc giáp xã Việt An, chia
cắt các thôn Thanh Bôi, Thanh Tân, Thanh Khê và Tài Thành. Vùng đệm trung tâm:
là thung lũng trũng, cao ở phía Đông và thấp dần về phía Tây, được bao quanh
bởi các núi Gò Vày, núi Vú, Eo Rọ, Đá Trắng, Dương Đường, Dương Cháy và Đoát;
có một con suối chảy từ Đông sang Tây, hợp lưu tại suối Rua rồi đổ vào Sông
Tiên về xã Việt An.
Xã
nằm trong vùng trung du miền núi, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ
tháng 9 đến tháng 12, mùa nắng từ tháng 01 đến tháng 8 hằng năm.
3. Tài nguyên
- Tổng diện tích tự nhiên:
11.876,51 ha, gồm:
+ Đất nông nghiệp:
11.211 ha (đất trồng cây hàng năm: 1.014,3 ha; đất trồng cây lâu năm: 3.101,68
ha)
+ Đất lâm nghiệp:
7.090,85 ha (rừng phòng hộ: 1.505,97 ha; rừng sản xuất: 5.584,87 ha). Cây trồng
chủ yếu: keo, thông nhựa; một số ít cây sao đen từ các chương trình trồng rừng
327 và 661. Rừng bản địa còn lại phân bố rải rác trên các đỉnh núi cao, ven các
suối nhỏ ở khu vực hiểm trở.
+ Đất phi nông nghiệp:
650,34 ha.
- Tài nguyên nước:
Hệ thống sông suối chính gồm sông Tiên, suối Ồ, suối Cò Vày với lưu vực rộng,
đáp ứng nhu cầu nước cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, mực nước thấp, công
trình thủy lợi hạn chế nên khả năng trữ và khai thác nước mặt còn thấp; mùa khô
thường xảy ra thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp.
- Tài nguyên khoáng sản:
Có 09 mỏ cát đang khai thác với diện tích hơn 10 ha, phân bố tại các thôn Thanh
Tân, Thanh Bôi, Tài Thành, Tiên Tráng và Phú Vinh.
4. Tiềm năng, lợi thế
Với
các yếu tố tự nhiên, điều kiện địa lý và đặc điểm địa hình đặc thù, Sơn Cẩm Hà
sở hữu những tiềm năng, lợi thế riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Khí hậu
ôn hòa quanh năm thuận lợi cho việc trồng và phát triển nhiều loại cây, con
nhiệt đới, tạo nên những sản phẩm đặc sản nổi tiếng như tiêu, chè, quế, lòn
bon, thanh trà, cam giấy, măng cụt…
Với
diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp lớn, người dân Sơn Cẩm Hà từ bao đời
nay chủ yếu sống bằng nghề nông, có truyền thống và kinh nghiệm phong phú trong
trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là phát triển kinh tế vườn. Người dân cần cù,
sáng tạo, nhanh nhạy tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng mạnh mẽ vào
sản xuất, nhờ đó tiềm năng đất đai ngày càng được khai thác hiệu quả, giá trị
sản xuất trên đơn vị diện tích liên tục tăng. Kinh tế vườn, kinh tế trang trại
và chăn nuôi đã trở thành thế mạnh, được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và
là hướng đi đúng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.
Diện tích cây kinh tế vườn:
tăng từ 1.287,6 ha (năm 2020) lên 1.687,28 ha (năm 2025), tăng 399,68 ha. Toàn
xã hiện có 06 trang trại trồng trọt, 74 trang trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ,
trên 194 vườn được công nhận đạt tiêu chí vườn mẫu cấp huyện và tiêu chí vườn
xanh – sạch – đẹp – hiệu quả. Giá trị sản xuất tăng từ 100 triệu
đồng/ha/năm (năm 2020) lên 150 triệu đồng/ha/năm (năm 2025). Nhiều mô hình kinh
tế vườn chuyên canh và đa canh đem lại hiệu quả cao, tiêu biểu như trồng sầu
riêng, măng cụt, cam, chuối, cau, tiêu… Một số hộ đầu tư ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số vào quản lý và chăm sóc vườn, đạt thành tích cao trong
các cuộc thi “Vườn đẹp” cấp huyện, tỉnh, như: ông Phạm Hồng Sơn
(thôn Tiên Tráng) – giải Ba cuộc thi “Vườn đẹp” cấp tỉnh, ông Huỳnh Văn Hiền
(thôn 3) – giải Ba cấp huyện và giải Khuyến khích cấp tỉnh; Các mô hình tường
rào, cổng ngõ đẹp: ông Huỳnh Văn Trí (thôn Thanh Bôi), Nguyễn Hoàng Thao
(thôn Thanh Khê) – giải Nhất tỉnh; ông Lê Hồng Phong (thôn Đại Tráng) –
giải Ba cấp tỉnh; ông Nguyễn Đình Tuấn, ông Trần Văn Hải (thôn Hội An) –
giải Khuyến khích cấp tỉnh; các mô hình vườn xanh -sạch - đẹp - hiệu quả gắn
với du lịch sinh thái: ông Phạm Văn Tuyết (thôn Hội An), ông Đinh Văn Nghi
(thôn Tiên Tráng), ông Nguyễn Thanh Hiên (thôn Cẩm Phô)…
Sản
phẩm kinh tế vườn của xã đóng vai trò là vùng nguyên liệu ổn định phục vụ
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP). Đến nay, xã có 07 sản phẩm OCOP đã
được công nhận (01 sản phẩm 4 sao, 06 sản phẩm 3 sao), tất cả đều có nguồn gốc
từ kinh tế vườn. Các sản phẩm từng bước nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã,
bao bì, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiếp cận thị trường, tăng
doanh thu và tạo thu nhập ổn định cho các chủ thể sản xuất.
Bên
cạnh đó, diện tích vườn, trang trại và vùng sản xuất cây ăn quả, cây trồng chủ
lực tiếp tục được mở rộng. Đến nay, 23,44 ha đã được cấp chứng nhận
VietGAP và 5,64
ha được cấp mã số vùng trồng, tạo nền tảng vững chắc cho phát
triển nông nghiệp hàng hóa gắn với tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn
gốc.
5. Thông tin du lịch
Xã
Sơn Cẩm Hà hiện đang định hướng phát triển du lịch sinh thái gắn với
tiềm năng tự nhiên và giá trị văn hóa đặc trưng của vùng trung du xứ Quảng. Địa
bàn xã được hình thành trên cơ sở sáp nhập các xã Tiên Hà, Tiên Sơn và Tiên
Châu (cũ) – những vùng đất vốn sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên,
địa hình đa dạng, cùng hệ thống di tích lịch sử – văn hóa và danh thắng độc
đáo.
Hiện
nay, trên địa bàn xã có 01 di tích cấp quốc gia là Căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam;
cùng 07 di
tích cấp tỉnh gồm: Lò Chén Phú Lâm,
Nền trường tân học Phú Lâm (thôn 4), Chiến
thắng Núi Ngang (thôn 3), Chứng tích vụ thảm sát Đồng Trại (thôn Cẩm Lãnh),
Chứng tích vụ thảm sát Gò Vàng (thôn 4), Đình Làng Hội An (thôn Hội An), Danh
thắng Thác Ồ Ồ.
- Khu
căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam (thôn 1) được hình thành trong kháng chiến
chống Pháp. Nơi đây có vị trí đặc biệt quan trọng về mặt quân sự vì bao quát
vùng đồng bằng rộng lớn ở phía Đông. Trong 9 năm chống Pháp, cùng với Tiên Cẩm,
Tiên Hà, xã Tiên Sơn đã tạo thành chiến khu vững chắc. Tiếp đó, trong những năm
kháng chiến chống Mỹ, nơi đây lại là căn cứ địa vững chắc của cách mạng khu 5.
Chiến dịch giải phóng Sơn – Cẩm – Hà (25/9/1962) và cuộc chiến đấu chống chiến
dịch Bình Châu, Dân Chiến của địch trong những năm 1963 – 1964 đã tạo điều kiện
thuận lợi trong việc bảo vệ căn cứ địa của cách mạng để từ đó tiến công xuống
giải phóng đồng bằng các huyện Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn và giải phóng hoàn
toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975. Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam được
công nhận là Di tích quốc gia theo Quyết định số 2106/QĐ-BVHTTDL của Bộ VHTTDL
ngày 8/7/2014.
- Lò Chén Phú
Lâm:
Lò
chén Phú Lâm được xây dựng năm 1935 với tên gọi ban đầu là “Fabrication
Annamite Porcelaine par Hoa Loc” (Lò sản xuất gốm sứ An Nam tại Hòa Lộc) do ông
Lê Tuất làm chủ. Cái tên Tây này đã làm cho người Pháp cảm thấy gần gũi với họ,
và cho rằng chỉ đơn thuần là sản xuất chén bát cung cấp cho thị trường mà không
hề biết đây chính là cơ sở kinh tài được Xứ ủy Trung kỳ giao nhiệm vụ cho 2 ông
Lê Tuất và Huỳnh Lắm xây dựng tại Hòa Lộc (nay là thôn 5 xã Tiên Sơn). Sản phẩm
làm ra là các mặt hàng chén, bát, dĩa... Mỗi tháng lò sản xuất 10 - 15 ngàn sản
phẩm các loại đưa đi tiêu thụ ở Đà Nẵng đến Quảng Ngãi. Lò chén ngày càng ăn
nên làm ra và nguồn tài chính thu về, ngoài việc trả lương cho nhân công và tái
sản xuất, còn lại bí mật chuyển cho các tổ chức của Xứ ủy Trung kỳ.
Sau
khi Lò chén Phú Lâm đi vào hoạt động, thực dân Pháp nghi ngờ cho mật thám dò
la. Tuy nhiên, lúc bấy giờ ở “mẫu quốc Pháp”, Mặt trận bình dân lên nắm chính
quyền, nới lỏng chính sách hà khắc ở các thuộc địa, nhờ vậy, Lò chén Tiên Sơn
không bị gây khó dễ. Đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, các “hội kín” do Đảng thành
lập ở nhiều nơi trên địa bàn Tiên Phước. Chi bộ đảng Tài Đa và Thạnh Bình cũng
lần lượt ra đời. Năm 1940, Pháp đưa một tốp lính khố xanh dưới sự chỉ huy của
một sĩ quan Pháp đến Phú Lâm để dò xét, truy hỏi. Ông Mai - một công nhân của
lò chén biết tiếng Pháp đã tìm cách đánh lừa chúng để chúng rút khỏi Phú Lâm.
Thời gian này, phong trào cách mạng trong tỉnh bị địch khủng bố ráo riết, nhiều
tổ chức đảng bị lộ nhưng Lò chén Phú Lâm vẫn tồn tại cho đến ngày Cách mạng
8.1945 thành công. Di tích Lò chén Phú Lâm cũng đã được UBND tỉnh Quảng Nam
(cũ) xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh vào năm 2005.
- Nền trường tân
học Phú Lâm:
Trường
Tân học Phú Lâm xưa nằm ở làng Phú Lâm, huyện Lễ Dương, nay thuộc thôn 3 xã Sơn
Cẩm Hà, thành phố Đà Nẵng. Đây là một trong những dấu tích giáo dục tiêu biểu
còn lại ở vùng trung du xứ Quảng, gắn liền với truyền thống hiếu học của người
dân địa phương. Hiện nay, nền trường đã được xếp hạng Di tích Văn hóa - lịch sử
cấp tỉnh, nằm sát trục đường ĐT614 từ Tiên Phước đi Hiệp Đức. Theo sử sách,
ngày mùng 10 tháng Giêng năm Giáp Thìn (25.1.1904), Lê Cơ - Lý trưởng
làng Phú Lâm, đệ đơn lên phủ Thăng Bình xin mở tiệm buôn tạp hóa và trường dạy
chữ Quốc ngữ. Được phê chuẩn, ông liền hô hào nhân dân trong xã đóng góp tiền
của xây dựng trường Phú Lâm tại làng. Theo các cụ cao niên, trường được xây
theo kiểu nhà dài, mái lợp tranh, móng kè bằng đá tảng và nền nện đất sét, vách
bằng tre nứa trát đất.
Trường
khai giảng vào rằm tháng 3 năm Giáp Thìn (30.4.1904). Ban ngày dạy cho thanh
niên, ban đêm dạy cho trung niên, còn chủ nhật mọi người đến nghe diễn thuyết,
nghe thơ, nói vè, đánh cờ... Giáo viên là những người tình nguyện, không nhận
lương. Trường chỉ lo cơm và tiền lộ phí cho thầy, học sinh nghèo được cấp giấy
bút. Trường có lớp nữ sinh riêng do giáo viên nữ giảng dạy. Người học không hạn
chế về tuổi tác. Trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và chữ Pháp. Chương trình học
lúc bấy giờ gồm nhiều môn như Lịch sử, Địa lý, Hát, Vẽ, Toán đố… Học sinh còn
được học môn thủ công làm những đồ dùng cần thiết trong đời sống và tập thể dục
rèn luyện thân thể. Mục đích của cụ Lê Cơ là mở trường để mở mang trí tuệ cho
người dân trong vùng, đồng thời qua các buổi diễn thuyết giáo dục lòng yêu nước
cho quần chúng nhân dân. Kết quả năm 1908 có hơn 650/1.200 người dân trong xã
đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ. Ngoài mở trường dạy chữ, cụ Lê Cơ còn vận
động cắt tóc ngắn, mặc quần hai ống, lập các “hợp xã” buôn bán, sản xuất. Chính
phủ Bảo hộ Pháp và Nam triều không lường trước được kết quả như thế, đành lập
một đồn canh tại đèo Eo Gió - Tiên Cẩm do tên quan 3 Pháp chỉ huy để đề phòng
“sinh biến”.
- Chiến thắng Núi
Ngang (thôn 3),
- Chứng tích vụ
thảm sát Đồng Trại (thôn Cẩm Lãnh), Chứng tích vụ thảm sát Gò Vàng (thôn 4): Gần bảy thập kỷ trước, vào năm 1955, trong cơn
cuồng loạn cuối cùng trước khi sụp đổ, Quốc dân đảng đã thực hiện một trong
những vụ thảm sát rùng rợn nhất ở miền Trung. 200 đồng chí, đồng bào yêu nước
bị bắt và chôn sống trong các hầm heo tại khu vực Đồng Trại. Tại Gò Vàng gần
đó, thêm 35 người vô tội nữa cũng bị vùi xác dưới lòng đất. Những con số ấy
không chỉ là dữ kiện, mà là tiếng kêu thầm của lịch sử. Là máu và nước mắt thấm
trong từng gốc cây, phiến đá. Là lời nhắc nhớ rằng tự do hôm nay được đổi bằng
sự hy sinh đau đớn, tận cùng. Với trách nhiệm gìn giữ ký ức thiêng liêng, ngày
19/6/2009, UBND tỉnh Quảng Nam cũ đã ra quyết định xếp hạng Đồng Trại là di
tích lịch sử cấp tỉnh. Từ đó đến nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ trong hành
trình giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, và là chứng tích không
thể xóa mờ về tội ác phản cách mạng.
- Đình làng Hội An (thôn
Hội An) có niên đại hơn 150 năm. Người khởi xường, vận động xây dựng Đình làng Hội An vào khoảng năm 1870
là Phó bảng Nguyễn Đình Tựu (1828 - 1888), Đốc học Quảng Nam, Tế tửu Quốc tử
giám, để tri ân và thờ cúng các bậc tiền nhân đã khai phá lập làng, với uy tín
của một danh sĩ, vị quan lớn, việc xây dựng đình làng được đông đảo thân hào và
người dân trong tổng, trong làng đồng tình hưởng ứng. Việc xây dựng đình làng
lúc bấy giờ do ông Nguyễn Đình Dương, là Chánh tổng Tổng Tiên Quý, huyện Hà
Đông cùng các vị thân hào triển khai thực hiện. Ban đầu, không
gian đình làng gồm 5 kiến trúc. Bên cạnh ngôi nhà Tự (đình chính), còn có nhà
kho, nhà hội, nhà Thủ Hộ và về sau dân làng còn xây thêm nhà thờ Bà Tư (là
người có công hiến đất, góp tiền với làng để xây đình và tổ chức cúng tế). Phía
trước đình chính có bức bình phong xây bằng đá núi, vữa vôi, có đắp nổi
chữ 福 (Phước) bằng những mảnh sành sứ. Khu khuôn
viên đình làng có tường kiên cố bằng vật liệu đá, vữa vôi đường, có cổng đi vào
từ hướng Đông. Hai bên cổng đắp hai câu đối: “Bá niên tố trứ thanh danh địa/ Tứ
diện hoành khai đạo nghĩa môn” (tạm dịch là: Thanh danh của vùng đất được tạo
dựng từ hàng trăm năm/Cửa đạo đức nghĩa nhân theo đó cũng được lan truyền bốn
phương. Phía trên trụ biểu đình có chữ “Tiên Hội Môn”. Do biến thiên của lịch
sử và chiến tranh, hiện nay, đình làng chỉ còn lại ở chính diện là ngôi nhà tự
Hiền và kế bên trái là nhà kho - nơi cất giữ vật dụng, tài sản của làng phục vụ
cho việc cúng tế. Ngày 21/7/2014 UBND
tỉnh Quảng Nam đã có Quyết định số 2276/QĐ-UBND xếp hạng Đình làng Hội An là di
tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh. Từ năm 2024,
2025, địa phương đã phục dựng lại Lê hội Kỳ Yên: lễ tế tiền hiền và rước sắc ở
đình làng, thu hút hàng nghìn người dân và du khách tham gia, được đánh giá cao
trong việc đưa các giá trị văn hóa truyền thống vào di tích, góp phần giới
thiệu, quảng bá hình ảnh tươi đẹp, thân thiện của con người và quê hương nổi
tiếng với đặc sản trái lòn bon.
- Danh thắng Thác Ồ Ồ : thác Ồ
Ồ nằm trên đoạn suối Ồ Ồ có chiều dài khoảng 1.500m, độ chênh cao trung bình
khoảng 15-20m, độ dốc trên dưới 45 độ. Thác Ồ Ồ
là tổng hợp hình thái địa hình thung lũng sông suối có tính phân bậc,
tạo nên nhiều thác ghềnh có độ cao khác nhau, cùng với lòng và bờ suối được cấu
tạo từ các đá biến chất cổ có hình thù và kích thước đa dạng của hệ tầng Khâm
Đức – Núi Vú cách đây hàng triệu năm. Thác được tạo nên từ tổ hợp đá phong phú,
đa dạng các kiểu như: đá phiến amphiblit – plaggioclas sẫm màu, đá phiến
plaggioclas – amphibolit, đá phiến –
plaggioclas – thạch anh – biolit vảy đỏ, đôi khi chứa granat, đá phiến
amphibolit màu xanh đen cát kết quarzit. Các đá lộ ra với diện tích khá rộng.
Đây là những vết lộ hiếm có ở xứ nhiệt đới vì lộ toàn gốc đá, trong khi phần
lớn ở các nơi khác gốc đá đều bị phong hóa mạnh. Thác Ồ Ồ, bãi đá Vực Bàn, thác Ổ Diều… mỗi năm đón hàng nghìn
lượt khách trong và ngoài xã đến tham quan, trải nghiệm. Tại các khu vực này,
nhiều hộ dân đã chủ động phát triển dịch vụ ẩm thực đáp ứng kịp thời nhu cầu
thưởng thức đặc sản địa phương của du khách.